Đẳng cấp của một quốc gia phải thể hiện bằng trình độ sản xuất của quốc gia đó.



Vì sao các sản phẩm chủ lực của Việt Nam đều vắng bóng trong các hệ thống siêu thị hoặc có cũng không được chuộng. Lúa gạo giá xuất khẩu 9.100 đồng/kg, giá tiêu dùng trong nước lại phải chịu với giá (13.000 đồng/kg). Tại các siêu thị, bày bán gạo Hàn có giá 100.000 đồng/kg, gạo Nhật có giá 95.000 đồng/kg vẫn đắt như tôm tươi.



Đối với ngành dệt may, gia dày cũng rơi cảnh tương tự. Một Giám đốc Công ty Cổ phần Giày Việt, thừa nhận, trên 80% DN sản xuất giày không do người Việt Nam làm chủ và chỉ thực hiện gia công cho nước ngoài. Vì thế người tiêu dùng nội địa khó có cơ hội dùng những sản phẩm chất lượng cao.



Lý giải nghịch lý này PGS.TSKH Nguyễn Văn Minh – Viện kinh tế và thương mại quốc tế cho rằng “chúng ta đã bỏ quên thị trường nội địa trong thời gian quá dài, giờ quay lại đã bị chậm nhịp”.



PV:- Thưa ông, có phải nghịch lý hay không khi mà hàng Việt thì chật vật sang trời Tây còn người Việt thì dùng hàng xứ khác? Phải lý giải nghịch lý này như thế nào, thưa ông?



PGS.TSKH Nguyễn Văn Minh: - Đây đúng là nghịch lý. Nghịch lý này đã được nhận diện từ lâu và tất cả những nhà quản lý phải tìm ra lời giải làm sao gỡ bỏ được nghịch lý này.



Phát triển thị trường nội địa nói dễ nhưng làm không dễ. Từ những năm trước do quá mong muốn có được nguồn ngoại tệ để đầu tư phát triển trong nước nên Việt Nam đã chọn con đường xuất khẩu. Các doanh nghiệp cũng được định hướng tập trung vào xuất khẩu. Thị trường nội địa bị bỏ rơi.



Ngay trong quy hoạch tổng thể phát triển Ngành công nghiệp dệt may của Bộ Công thương tư những năm 2010 cũng hầu như không nhắc đến vấn đề phát triển thị trường nội địa. Nhiều doanh nghiệp sản xuất trong nước thừa nhận không có sản phẩm bán trên thị trường trong nước.



Trong khi Việt Nam mải miết đi xuất khẩu, thị trường tiềm năng 90 triệu dân đã lọt tầm ngắm của các nhà đầu tư nước ngoài. Đến năm 2008, thị trường xuất khẩu thế giới khó khăn, VN bừng tỉnh, đặt chiến lược quay lại chiếm lĩnh thị trường nội địa thì đã bị chậm nhịp.



Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã xâm nhập, thâu tóm đa số các hệ thống phân phối bán lẻ, chiếm lĩnh thị trường Việt. Đây là bước đi rất có kinh nghiệm. Khi đã nắm được hệ thống bán lẻ việc các siêu thị vắng bóng hàng Việt là điều dễ hiểu.



DN Việt đã chậm chân lại mất hệ thống bán lẻ, hàng Việt khó thêm khó.



Tôi lấy ví dụ, sản phẩm may của Việt Tiến, gia công cho nước ngoài được sản phẩm nào sẽ ăn công sản phẩm đó. Nhưng nếu để phát triển được ở thị trường nội địa bắt buộc phải có chuỗi phân phối, bán lẻ phát triển.



Để phát triển thành mạng lưới trên 64 tỉnh thành cần phải có chi phí khổng lồ. Nhất là trong bối cảnh thị trường nội địa đã bị bỏ trống một thời gian dài, hệ thống bán lẻ bị rơi vào tay các nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp Việt muốn quay lại cũng không đơn giản.



Vì vậy, doanh nghiệp cần có thời gian định hướng lại tái cấu trúc phát triển. Ở đây phải nói là do DN Việt đã lựa chọn con đường ngắn, “ăn liền”, làm thuê cho nước ngoài để kiếm được tiền ngay.



Với lúa gạo cũng vậy, tại sao DN xuất khẩu giá thấp người dân phải ăn gạo Thái giá cao. Là do không có định hướng, để người nông dân tự bơi, chạy theo con đường dễ đi nhất, kiếm lợi nhuận nhanh nhất. Việc này không thể trách người nông dân.



Nút thắt ở đây chính là thị trường tiêu thụ, chạy theo chính sách xuất khẩu, chi phí quá nhiều qua khâu trung gian, xuất nhiều nhưng giá trị rất thấp. Người nông dân không được hưởng giá trị thực.



PV:- Theo ông nói, việc sản phẩm Việt vắng bóng trên sân nhà là hệ quả tất yếu từ việc chỉ chú trọng và xuất khẩu, bỏ quên thị trường nội địa? Nghĩa là một nguồn lực rất lớn đã bị bỏ quên, thưa ông?



PGS.TSKH Nguyễn Văn Minh: - Không sai. Xuất khẩu sẽ nhìn thấy ngay kết quả và dễ đạt được tới đỉnh cao. Do chạy theo chính sách này nên các doanh nghiệp đã quên hẳn thị trường trong nước. Tạo tâm lý sính ngoại, không muốn sản xuất cho người tiêu dùng trong nước. Điều này tạo áp lực, khó khăn cho chính doanh nghiệp nếu muốn quay trở lại.



Trong khi đó, với thị trường 90 triệu dân, trong đó dân số thành thị chiếm 33% và thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng nhanh, thị trường bán lẻ VN đang được coi là mảnh đất màu mỡ cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.



Việc bỏ trống một thị trường tiềm năng như vậy rõ ràng VN đang lãng phí một nguồn lực rất lớn.



PV:- Theo ông lỗi do đâu?



PGS.TSKH Nguyễn Văn Minh: - Lỗi và trách nhiệm đầu tiên là của những nhà hoạch địch chính sách đã thiếu một tầm nhìn, thiếu tư duy dài hạn. Không có quy hoạch hoặc có quy hoạch nhưng khi ban hành lại có độ trễ, không như hoạch định ban đầu dẫn tới sự méo mó trong thực hiện chính sách.



Vì chính sách như vậy nên không định hướng được thị trường. Đa số đều tự làm dịch vụ logistics, có nghĩa là DN tự lo từ A đến Z, từ khâu lưu kho, vận chuyển hàng hóa đến các trung tâm phân phối hoặc cửa hàng bán lẻ của mình.



Thứ hai, cần phải có sự thay đổi hạ tầng đồng bộ, thay đổi chính sách khuyến khích phát triển từng lĩnh vực cụ thể.



PV:- Qua những cuộc giải cứu dưa hấu, hành tím vừa qua cho thấy, nếu được quảng bá, cộng với việc thiết kế những sản phẩm phù hợp, người Việt sẽ rất hào hứng dùng hàng Việt. Thưa ông, lợi thế của hàng Việt so với các sản phẩm nước ngoài sẽ như thế nào (công vận chuyển, chi phí sản xuất...) và hàng Việt nên đặt mục tiêu đánh bật hàng nước nào đầu tiên?



PGS.TSKH Nguyễn Văn Minh: - Ở đây có hai vấn đề. Đầu tiên phải cảm ơn người dân Việt Nam đã thể hiện tinh thần tương thân tương ái nhưng không phải giải pháp căn cơ. Đó là giải pháp dựa trên tình thương. Tất nhiên nếu kích thích đúng, định hướng thị trường đúng người Việt sẵn sàng dùng hàng Việt dù tính cạnh tranh chưa cao. Đây là lợi thế rất lớn, lợi thế vô hình.



Đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang bị Trung Quốc ép trong nhiều khía cạnh, tận dụng được lợi thế này sẽ là sức mạnh rất lớn trong việc giải quyết đầu ra cho sản phẩm Việt. Tất nhiên, nó không bền vững và nhiều may rủi.



Điều chúng ta cần là một giải pháp cơ về mặt kinh tế. Làm được như vậy phải trả lời được câu hỏi: Chất lượng hàng việt có cạnh tranh được hay không? Cạnh tranh bằng cái gì?



Tôi khẳng định luôn, đối thủ số một của Việt Nam là Trung Quốc nhưng Việt Nam không cạnh tranh được số lượng và giá cả. Hàng Trung Quốc có nhiều cấp phẩm về chất lượng, giá siêu rẻ.



Tuy nhiên, chất lượng hàng Trung Quốc đang có nhiều vấn đề. Họ phát triển theo số đông, thiên về số lượng, đe dọa phát triển bền vững… đây là cơ hội của Việt Nam.



Nếu làm được như vậy, cái có thể nhìn thấy đầu tiên là sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Có nền sản xuất của chính mình.



Đẳng cấp của một quốc gia phải thể hiện bằng trình độ sản xuất của quốc gia đó. Khi đẩy được nền sản xuất trong nước nên, tự làm được hàng hóa của chính mình, có chất lượng tốt, có thể cạnh tranh được với các nước, đó chính là đẳng cấp dân tộc. Là sự phát triển bền vững lâu dài.



Để làm được như vậy, Việt Nam phải có được công nghệ lõi. Để có công nghệ lõi phải có khoa học công nghệ, phải đối mới sáng tạo, phát triển công nghiệp hỗ trợ. Điều này đáng lẽ phải được nhìn thấy và thay đổi từ lâu.



Đáng buồn, công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam còn quá yếu, không sản xuất được cả những ốc vít.



Đây đầu tiên là lỗi của chính sách. Khi mở cửa thu hút đã thiếu những cam kết nội địa hóa sản phẩm của những doanh nghiệp FDI. Đó là lý do mấy chục năm phát triển công nghiệp ô tô VN vẫn chỉ dừng ở lắp ráp, làm thuê.



Vì chạy theo áp lực doanh thu, áp lực tăng trưởng hoặc là do chạy theo thành tích, phong trào nên đã quên đi một việc bắt buộc khi đầu tư, doanh nghiệp nước ngoài phải đưa công nghệ lõi vào. Cái khó của Việt Nam hiện nay là cần một cơ chế buộc FDI thực hiện cam kết này.



Lẽ ra có những việc Việt Nam phải làm và phải làm từ sớm là phát triển những khu vực kinh tế tự do, xóa bỏ rào cản thuế quan, hình thành những chuỗi doanh nghiệp nhỏ và vừa, khuyến khích sáng tạo, phát triển. Tới nay không làm được.



PV:- Phải nhìn nhận thực tế rằng, khi một phần lớn hệ thống bán lẻ của Việt Nam đã bị nước ngoài chi phối, cộng với việc hàng rào thuế quan sắp được gỡ bỏ hoàn toàn, khó khăn với hàng Việt để chiếm lĩnh lại thị trường nội không hề nhỏ. Tuy nhiên, nếu không làm được điều này, viễn cảnh người Việt không sản xuất hoặc sản xuất rất ít, từ cái tăm cũng dùng hàng nước ngoài đồng nghĩa với viễn cảnh kinh tế như thế nào?



PGS.TSKH Nguyễn Văn Minh: - Cứ đi theo kịch bản đó thì kinh tế đình trệ, phụ thuộc ngày càng sâu hơn.



May mắn, hiện nay đã có nhiều doanh nghiệp tư nhân đã thức tỉnh và nhìn nhận được mối nguy mất thị trường bán lẻ.



Vấn đề ở đây là cần một chính sách thống nhất, từ nhà quản lý tới doanh nghiệp, người tiêu thụ. Ở đây là phụ thuộc vào cơ quan quản lý có làm được như vậy hay không.



PV:- Xin cảm ơn ông!





Vũ Lan










Theo stockbiz.vn

View more random threads: